09:24 PM 12/10/2021  | 

Mùa đông năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng dẫn những người đồng hương và nghĩa dũng xứ Thanh vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Sau này ông trở thành chúa Tiên, là người gây dựng cơ nghiệp dòng họ Nguyễn Phúc với 9 đời chúa, 13 đời vua, kéo dài gần 400 năm. Gây nền ở phương Nam nhưng đâu là cội nguồn của ông?

Đại Nam thực lục chép: “Nhà nước ta, Tống Sơn đúc khí thiêng, Gia Miêu gây điềm tốt[1]; lại viết: “Tống Sơn là đất phát tích, quốc gia ta thánh nối, thần truyền, cơ nghiệp ức vạn năm thực bắt đầu gây dựng ở đấy[2]. Huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa (nay là tỉnh Thanh Hóa) vốn là quê hương chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Chúa là con trai thứ 2 của Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim - 1 công thần triều Lê. Sau khi Nguyễn Kim mất, binh quyền triều Lê tập trung trong tay Dực quận công Trịnh Kiểm. Vì muốn tránh sự nghi ngờ của Dực quận công nên năm 1558 chúa Tiên Nguyễn Hoàng (lúc đó là Đoan quận công) xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Cơ nghiệp nhà Nguyễn được gây nền từ đây và dần vẽ lên địa đồ dải đất hình chữ S của nước ta như ngày hôm nay.

Sau khi thống nhất giang sơn vào năm 1802, vua Gia Long đã tìm về nơi phát tích kính bái tổ tiên, truy phong chúa Tiên Nguyễn Hoàng là Gia Dụ hoàng đế, truy phong Nguyễn Kim đế hiệu Triệu tổ Tĩnh hoàng đế và là thủy tổ của dòng họ Nguyễn Phúc. Nhà vua cho dựng lăng Trường Nguyên, xây Nguyên miếu, làm đình Gia Miêu để tri ân nguồn cội và ban chiếu “lấy Gia Miêu ngoại trang làm quý hương, Tống Sơn làm quý huyện[3].

Lăng Trường Nguyên tọa lạc tại vùng núi Thiên Tôn, là nơi hợp táng của Triệu tổ Tĩnh hoàng đế và Tĩnh hoàng hậu. Phía trước lăng, vua Gia Long cho xây một nền hình vuông để làm nơi bày đồ lễ. Năm 1822, vua Minh Mệnh cho xây ở bên trái nền vuông này một đình bia và dựng một tấm bia đá. Sau đó, vua tự làm bài văn bia và bài minh khắc trên tấm bia “để tỏ rõ từ đâu gây nên nghiệp lớn, truyền lâu dài hàng ức vạn năm[4]. Đồng thời thấy đây là mảnh đất phát phúc, làm rạng cơ nghiệp vạn năm của dòng họ Nguyễn Phúc nên vua Minh Mệnh cho đổi tên núi Thiên Tôn thành núi Triệu Tường.

Cách lăng Trường Nguyên gần 1 km, vua Gia Long cho dựng Nguyên miếu gồm 3 gian 2 chái. Phía bên trái Nguyên miếu dựng một miếu nhỏ thờ Trừng Quốc công Nguyễn Hoàng Dụ (cha của Triệu tổ Nguyễn Kim) và Lỵ Nhân công Nguyễn Văn Lang (cha của Nguyễn Hoàng Dụ). Châu bản triều Nguyễn cho biết: “gian giữa Nguyên miếu thờ Triệu tổ Tĩnh hoàng đế, gian tả thờ Thái tổ Gia Dụ hoàng đế. Gian giữa Tả miếu thờ Trừng Quốc công, gian tả thờ Lỵ Nhân công[5].

Hàng năm, vào dịp lễ tiết, các vua triều Nguyễn thường phái quan viên đến lăng miếu này, cùng với quan tỉnh Thanh Hóa trai giới, “chuẩn bị lễ phẩm tam sinh, xôi thịt, cỗ bàn[6] và chúc văn, trà quả kính cẩn làm lễ. Châu bản ngày 27 tháng 5 năm Tự Đức thứ 20 (1867) cho biết thêm rằng đối với 4 án thờ này đều cho “tham khảo lệ định ở kinh đô, mỗi án thờ phải dâng thêm trầu trà một lượt[7]. Sau đó, lại được vua phê: “mỗi án tăng thêm 1 đĩa mới thích hợp”.

Các vua Nguyễn không chỉ khắc ghi công đức tổ tiên, xây lăng dựng miếu, tế lễ hàng năm mà còn dành ưu hậu đặc biệt đối với đất thang mộc Gia Miêu Ngoại trang. Năm Gia Long thứ nhất (1802), khi xa giá tới Thanh Hoa, vua cho nơi này được hoãn binh dao tô thuế. Vua ban chiếu rằng: “Thanh Hoa là ấp thang mộc của trẫm. Trước vì Tây Sơn tàn ngược, thuế nhiều dịch nặng, dân phần nhiều xiêu dạt. Nay mới khôi phục, nghĩ đất căn bản cần phải vỗ về nuôi nấng trước, nên đặc biệt chuẩn cho phàm binh dao tô thuế đều hoãn, gọi dân trở về để đều yên nghiệp làm ăn, cùng nhau hưởng phúc thái bình[8].

Đến năm Gia Long thứ 10 (1811), nhà vua lại “tha tô thuế dao dịch cho huyện Tống Sơn, cấp thêm lương tiền cho binh lính[9].  Chính sử chép: “Vua thấy Tống Sơn là đất thang mộc, cỗi gốc ở đó, muốn ra ơn đặc biệt, hạ chiếu cho từ nay tô thuế dao dịch đều miễn[10].

Sau này, vua Thiệu Trị đăng quang cũng ban thưởng tiền văn cho trang Gia Miêu Ngoại và cho huyện Tống Sơn được miễn dao, dịch cùng các loại thuế lệ đinh điền. Khi các kì lão ở quý hương vào kinh chúc mừng lễ tôn thân, vua lại ban dụ: “trang Gia Miêu Ngoại và huyện Tống Sơn là đất triệu tường, nên ân điển có thể ban ưu hậu… Nay những người trang đó vào kinh dâng hương và chúc mừng lễ tôn thân, tấm lòng thật đáng khen. Vậy gia ân truyền thưởng cho trang Gia Miêu Ngoại 100 lạng bạc và thưởng cho huyện Tống Sơn 2000 quan tiền. Lại các kì lão trong huyện đó người nào 100 tuổi trở lên thì đều thưởng cho 2 lạng bạc và 2 tấm lụa. Người nào từ 90 tuổi trở lên đều thưởng cho 1 lạng bạc và 1 tấm lụa. Người nào 80 tuổi trở lên đều thưởng cho 1 mai phi long ngân tiền hạng nhỏ và 1 tấm lụa[11].

Bản phụng dụ ngày 08 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) của Nội các về việc ban thưởng cho trang Gia Miêu Ngoại và huyện Tống Sơn cùng các kì lão nơi này nhân lễ đăng quang.

Ngoài ra, những người vào kinh mừng lễ tôn thân là bọn Nguyễn Hữu Tăng đều được thưởng riêng tiền văn, bạc, lụa. Thậm chí, số lễ dâng mừng cũng cho thưởng lại. Bản phụng dụ ngày 01 tháng 4 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) viết: “Trẫm nghĩ làng ấp thang mộc cần phải thưởng ưu hậu, về bọn Nguyễn Hữu Tăng đã giáng dụ thưởng cho ưu hậu. Trang đó và người già huyện đó cũng đã phân biệt thưởng cho bạc, tiền văn, vải lụa mức độ khác nhau, để được thấm nhuần ân huệ rồi. Trang đó có lễ nghi chúc mừng gồm 90 lạng bạc, gia ân truyền theo số đó thưởng lại[12] .

Đến triều vua Bảo Đại, ân huệ đặc biệt đối với quý hương Gia Miêu Ngoại trang vẫn “kính tuân theo pháp luật lúc dựng nước của bản triều, phàm người thuộc quý hương đều nên trừ thuế[13]. Vì vậy, những người của quý hương được cấp thẻ bài miễn thuế.

Có thể thấy, ngay từ khi vừa mới thống nhất giang sơn các vua triều Nguyễn đã trở về cội nguồn để tri ân tổ công tông đức, lại gia ân ban thưởng, ưu ái đặc biệt, miễn trừ thuế cho người dân nơi quý hương, quý huyện. Đạo lý uống nước nhớ nguồn cao đẹp ấy được vua trước truyền, vua sau nối tới cuối triều đại. Những sự việc đó được sử ghi sách chép, lại rõ ràng, tường tận trong từng trang Châu bản còn tươi nét son vua phê. Đó là thông tin tín thực minh chứng cho tấm lòng ưu hậu của các vua triều Nguyễn đối với tiên tổ, dòng tộc và vùng đất thang mộc.

 


[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.567.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 6, tr.303.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.609.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.165.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 224, tờ 124.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 7, tờ 94.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 163, tờ 200.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.534.

[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.863.

[10] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.863.

[11] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 8, tờ 91.

[12] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 8, tờ 99.

[13] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, bảo Đại tập 4, tờ 100.

Nguyễn Hường