06:46 AM 28/12/2025  | 

Dưới triều Nguyễn, việc đóng tàu thuyền phát triển mạnh ở Kinh đô Huế. Hơn thế, vua Minh Mệnh không chỉ chú trọng gia tăng số lượng, mà còn gia tăng chủng loại tàu thuyền và triển khai đóng thuyền theo kỹ thuật phương Tây. Chiếc tàu máy hơi nước (tàu thủy) đầu tiên ở Việt Nam đã được chế tạo thời vua Minh Mệnh.

Các vua đầu triều Nguyễn ý thức được vai trò của tàu thuyền trong xây dựng lực lượng thủy quân, giao thông vận tải, phát triển kinh tế nên mở rộng nhiều công xưởng đóng tàu trong cả nước, nhất là ở Kinh đô Huế. Đặc biệt, vua Minh Mệnh là người rất coi trọng học hỏi kỹ thuật đóng tàu của phương Tây để phát triển, cải tiến kỹ thuật đóng tàu thuyền trong nước. Năm 1822, vua đã cho mua một chiếc thuyền bọc đồng của Pháp để làm mẫu cho các xưởng đóng thuyền ở Huế. Năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), vua tiếp tục cho mua một chiếc tàu máy hơi nước của Pháp. Sau đó, vua dụ: “sức cho Đốc công Vũ khố nghiên cứu kiểu cách theo đúng như thuyền máy mua của Tây dương trước đây tâu lên xin làm.”[1]

Vì vậy, ngày mồng 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), Bộ Công dâng tấu về việc đóng tàu máy hơi nước như sau: “Hôm qua vâng sắc chỉ, bộ thần chiếu theo quy cách thuyền chạy bằng hơi nước làm trước một chiếc để thay, chiều ngang theo kích thước cũ, chiều dài tăng thêm 4 - 5 thước, mũi thuyền, đuôi thuyền thu nhỏ bớt... Thuyền này làm xong, tiếp tục làm một chiếc khác ngay, chiều rộng, chiều dài đều tăng thêm 2 thước. Chuẩn cho bọn Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh theo cách thức chế tạo.[2]

Bản tấu của Bộ Công, ngày mồng 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) về việc phái người chế tạo thuyền máy chạy bằng hơi nước. Nguồn: TTLTQGI.

Bản tấu này gồm 5 trang, kê chi tiết kích thước, quy cách thuyền máy chạy bằng hơi nước chuẩn bị đóng. Ngoài ra, nội dung châu bản cho biết việc chế tạo thuyền này giao cho Đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh đảm nhiệm.

Thuyền máy hơi nước làm xong, vua cho chạy thử nghiệm. Đây là chiếc thuyền máy chạy bằng hơi nước đầu tiên do người Việt Nam chế tạo. Ban đầu, thuyền chạy nhanh, sau hơn 2 giờ thì bị giảm tốc lực. Tuy nhiên, sau khi sửa, thuyền lại chạy bình thường. Tờ biên ngày 23 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) viết: “Hôm nay thí nghiệm thuyền chạy bằng hơi nước mới đóng từ cầu Ngự [Hà] chạy đến chợ Lương Quán hết 2 giờ 6 phút thì thuyền giảm tốc lực, đã dừng ngay thuyền và mở ra xem thấy là do máy cấp nước không chạy, nên trong thùng bị khô. Khi xem xét, sửa chữa xong cho chạy đến bến Định Môn hết 4 giờ 5 phút; lại từ bến Định Môn quay về cầu Ngự [Hà] hết 5 giờ 7 phút. Cộng tất cả là 10 giờ 2 phút, suốt dọc đường, thuyền này chạy nhanh không trở ngại gì.”[3]

Khi thấy thuyền máy hơi nước chạy thử nghiệm vừa nhanh, vừa nhẹ, máy móc lại tinh xảo nên Bộ Công muốn chế tạo một chiếc thuyền to và lấy máy móc đặt vào. Nội dung này được đề xuất trong bản tấu ngày 20 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) và được vua Minh Mệnh đồng ý qua lời châu phê “khả” (đồng ý) trên văn bản. Sau đó, tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), vua cho “chạy thử thuyền máy hơi nước mới đóng ở sông Hương”[4].

Lần thử nghiệm này do không vận chuyển đúng cách thức nên thùng chứa nước bị vỡ, máy hơi không chuyển động được. Những viên tham gia chế tạo thuyền đều bị phạt; các quan ở Bộ Công là Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lân cũng bị khiển trách. Chính sử Đại Nam thực lục chép: “Vua ngự ra xem, thùng nước vỡ, chảy, máy hơi không chuyển động, bọn đốc công chuyên biện đều phải xích giam, lại liên luỵ cả đến Bộ Công Nguyễn Trung Mậu, Ngô Kim Lân bị khiển trách là tâu càn, rồi được tha. (Trước đấy bọn Nguyễn Trung Mậu coi làm thuyền ấy đã xong, đem việc chuyển động đúng cách thức tâu vào, đến nay vì xe chuyển vận từ sở thợ đến bến sông, khi đi đường bị lay động, thùng nước phá vỡ, để máy hơi không chuyển, cho nên bị khiển trách).[5]

Sau đó, Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh cho sửa chữa. Tháng 4 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), thuyền máy hơi nước được đưa ra chạy thử lại, máy móc linh động, thuyền chạy nhanh nhẹ. Vì vậy, các viên Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh đều được ban thưởng. Chính sử viết : “Vua đi chơi cầu sông Ngự Hà, xem thí nghiệm thuyền máy hơi, thấy máy móc linh động, chạy đi nhanh nhẹ, thưởng đốc công Phó giám đốc Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trinh, mỗi người một nhẫn pha lê bịt vàng, một đồng Phi long đại kim tiền, lại gia hàm cho Giám đốc, thêm hai cấp, thưởng khắp cả đốc công và lính thợ 1.000 quan tiền. Bảo rằng: trước kia bọn ngươi làm lỡ việc, hầu mắc phải tội. Nay đã hết lòng hết sức làm cho đến thành công, cho nên khen thưởng không tiếc.”[6]

Như vậy, những thông tin trong chính sử Đại Nam thực lục và sử liệu Châu bản triều Nguyễn đều khẳng định thuyền máy hơi nước đầu tiên được chế tạo ở Việt Nam từ năm Minh Mệnh thứ 19 (1838). Đến năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), triều đình Nguyễn đã chế tạo được ba chiếc tàu thủy chạy hơi nước. Vua Minh Mệnh đặt tên cho ba chiếc tàu thủy là Yên Phi, Vân Phi, Vũ Phi. Đại Nam thực lục chép: “Đặt tên cho ba tàu thuỷ chạy bằng hơi nước: tàu lớn gọi là tàu Yên Phi, tàu hạng trung gọi là tàu Vân Phi, tàu nhỏ gọi là tàu Vũ Phi, đều khắc chữ thếp vàng ở đằng sau lái, cho có danh hiệu. Tàu Yên Phi khi mới mua ở Tây dương về, máy móc nhiều chỗ han gỉ, nồi sắt cũng rò nước, chạy thử chưa được nhanh lẹ. Đã sai đốc công sức thợ tháo ra xem xét, mài giũa từng cái, sửa chữa chỉnh đốn, lại lắp vào như cũ. Cho cùng thuyền hiệu Bình Hải ra biển chạy thử, từ cửa biển Thuận An đến đồn Đà Nẵng, đi về hai lần, tàu chạy máy hơi nước đều chạy nhanh hơn. (Thuyền Bình Hải vẫn có tiếng là nhanh lẹ).”[7]

Việc chế tạo thành công tàu thủy thời vua Minh Mệnh đã cho thấy những bước tiến mới về kỹ thuật thời kỳ này. Đồng thời, việc này thể hiện quyết tâm của vua Minh Mệnh không muốn lệ thuộc vào kỹ thuật nước ngoài. Nhà vua từng dụ: “Tàu này mua bên Tây cũng được, nhưng muốn cho công tượng nước ta tập quen máy móc cho khéo, vậy nên chẳng kể lao phí gì![8]

 

 

[1] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa, 1993, tập 13, tr. 372.

[2] TTLTQGI, CBTN, Minh Mệnh tập 68, tờ 23.

[3] TTLTQGI, CBTN, Minh Mệnh tập 68, tờ 238.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Giáo dục, H.2007, tập 5, tr.467.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Giáo dục, H.2007, tập 5, tr.467.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Giáo dục, H.2007, tập 5, tr.495.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Giáo dục, H.2007, tập 5, tr.771.

[8] Nội các triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, Nxb Thuận Hóa, 1998, tập 13, tr. 300.

Nguyễn Hường