Theo nội dung văn bản ngày 19 tháng 7 năm Tự Đức thứ 31 (1878) về bản án Đỗ Văn Hân: Căn cứ Bộ Hình tâu lên, tỉnh thần Quảng Nam đệ trình, vụ án về tranh chấp ruộng đất đã lâu năm không kết thúc, uẩn khúc còn chưa rõ mà đã coi nhẹ 2 mạng sống. Vậy nhanh chóng xem xét quan lại phủ huyện thuộc địa phương, không kể lớn hay nhỏ, người nào rõ tham nhũng, ăn hối lộ mà xét án oan ức, giam giữ nhiều người, lập tức trừng trị thật nặng. Những người hiện bị giam giữ, lập tức điều tra rõ ràng, nếu quả vô can thì phóng thích và phải xét án hoàn tất đúng hạn. Từ sau, phàm thụ lý các án, lập tức xét tùy theo mức độ nặng nhẹ để xử, không được giam cầm tràn lan để người vô tội chịu oan. Nếu lại để xảy ra như trước thì quan lại các huyện đều theo luật nghị xử và các thượng ty cũng theo luật tăng mức hình phạt, nghiêm xử không tha. Vua Tự Đức phê trên văn bản: Sao lục ngay.[1]
Dưới thời Minh Mệnh, Huyện thừa huyện Văn Giang là Đặng Đình Tuấn tha hung phạm mà buộc tội cho người khác, cha Tuấn là Đặng Đình Dương làm Thiêm sự Hình tào che giấu, Vũ Đức Thông làm trưởng Hình tào không xét rõ được, mập mờ kết án. Kẻ bị oan kêu tại Kinh. Vua sai Thiêm sự Hoàng Văn Đản và Lang trung Phạm Đình Học ra Bắc Thành hội tra, gửi về bộ Hình duyệt lại. Bộ Hình bàn xin xử Tuấn tội lưu, Dương tội đồ, Thông xử trảm giam hậu. Tâu lên xin chỉ, Vua nói rằng: “Vũ Đức Thông được chuyên uỷ việc hình án Bắc Thành, các án đều phải xét rõ lẽ để cho hình không oán lạm, mới là không phụ chức vụ. Thế mà gặp việc án mạng nghiêm trọng lại cùng cha con Đặng Đình Dương thông đồng che giấu vẽ vời, đem pháp luật của nhà nước tự ý mình múa rối, tội ấy kể sao cho xiết, theo luật mà xử, chẳng quá đáng đâu. Nhưng Thông còn can vào án Nguyễn Duy Xưởng theo giặc, hãy cách chức đợi xét, sau sẽ xuống chỉ thi hành. Còn các khoản khác thì cho theo như lời bộ bàn”. Đến lúc án Duy Xưởng thành, Thông phạm tội che đỡ người có tội, cũng bị xử trảm giam hậu. Theo một tội mà xử. Đây là vụ việc được Quốc Sử quán ghi lại trong Đại Nam thực lục.
Nhà làm luật triều Nguyễn quy định cụ thể, việc xét xử nếu thấy có sự oan uổng, quan các nha môn ở Kinh đô hay ở tỉnh đều có trách nhiệm phải biện minh cho họ, kê khai đầy đủ việc oan uổng của người phạm tội với chứng tích có thật để tâu lên nhà vua. Nếu biết rõ họ bị oan mà không biện lý thì quan sẽ bị xử theo tội cố ý thêm tội cho người.
Nếu quan lại không vì tư lợi mà do thi hành việc công dẫn đến nhầm lẫn phạm tội thì hình phạt chủ yếu là giáng phẩm trật, lưu nhiệm, điều động đi nơi khác. Bộ luật quy định: các quan văn võ lớn nhỏ ở Kinh đô hay ở tỉnh mà phạm công tội thì bị xử phạt từ 10 roi cho đến 100 trượng đều được đổi thành “phạt bổng” hoặc giáng cấp. Phạt xuy: 10 roi, giữ lại 1 tháng lương, 30 roi giữ lại 6 tháng lương, 40 roi giữ lại 9 tháng lương, 50 roi giữ lại 12 tháng lương. Phạt trượng: 60 trượng đổi thành giáng 1 cấp, 70 trượng đổi thành giáng 2 cấp, 80 trượng đổi thành giáng 3 cấp, 90 trượng đổi thành giáng 4 cấp và điều động đi nơi khác, 100 trượng thì bị cách chức, rời nhiệm, phát làm dân thường. Vụ án sau là một ví dụ:
Theo nội dung văn bản ngày 10 tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), tỉnh Hưng Hoá trình việc tiếp tục kết án các vụ trước chưa xét xử xong. Trong đó có vụ án do Nguyên Án sát Trần Ngọc Lâm thụ lý, người bị oan đã kêu oan rõ ràng nhưng không nhanh chóng tra xét, lại giam giữ lâu đến nỗi người vô tội thiệt mạng. Việc xét xử như vậy thật là vô cùng trái lệ. Nhưng xét lần này việc tra xét phức tạp, thời gian bị kéo dài cũng có căn cứ. Trần Ngọc Lâm nay gia ân giáng một cấp lưu nhiệm. Ngoài ra, các khoản khác đều duyệt y. Văn bản đã được Vua Minh Mệnh phê duyệt.[2]
Sinh thời, các vua triều Nguyễn cũng không ít lần trăn trở chuyện xét án, sao cho thỏa đáng, đảm bảo công bằng, để không người nào bị oan, đồng thời cũng không nương nhẹ kẻ nào. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), Nguyễn Bá Nghi ở Nội các phụng Thượng dụ: Căn cứ tấu sách của Ty Tam pháp về các hạng tù phạm được thẩm xét, phân biệt tình tội để hoãn hay chém, tâu lên. Ba bản sách tấu đó truyền giao cho Đình thần hết lòng phúc duyệt, xem xét, tâu lại đầy đủ, sao cho tình tội rõ ràng thoả đáng, pháp luật công bằng, không để kẻ nào bị oan, cũng không nương nhẹ kẻ nào. Văn bản đã được Vua Thiệu Trị phê duyệt.[3]
Khi đó, các vua triều Nguyễn quan niệm rằng thời tiết bất lợi có thể do hình ngục có chỗ còn chưa công bằng mà chưa biết đến. Vì vậy, án nào có tình lý bị oan hoặc xử quá tội, cần tra xét kỹ càng để có hình phạt công bằng. Đây là nội dung một văn bản năm Minh Mệnh thứ 21 (1840): Gần đây mùa đông nóng bức, đã sai các quan đến các đền miếu linh thiêng cầu đảo, nhưng chỉ được vài lần mưa phùn mà chưa được gió Bấc. Trẫm nghĩ đến dân chịu nóng bức, cần sớm có cách. Vả lại, kỳ xét án mùa thu năm nay, đã giáng dụ, phàm những kẻ bị tội xử chém, tạm thời dừng chém, những kẻ tội nhẹ thì khoan giảm. Nay lòng Trẫm áy náy không yên, ra sức tu tỉnh hoặc giả hình ngục có chỗ còn chưa được công bằng mà chưa biết hết. Truyền cho Bộ Hình, Viện Đô sát, Đại lý tự, đem những vụ án ở các tỉnh ngoài Kinh do Bộ Hình duyệt nghĩ thi hành gần đây, cùng phối hợp tận tâm thẩm xét thật kỹ. Nếu có án nào tình lý bị oan hoặc xử quá tội, tâu lên đầy đủ để cho hình phạt công bằng và giải quyết xong án tù tồn đọng. Như vậy có thể đón ý trời ban cho gió mát mẻ. Vua Minh Mệnh đã phê duyệt.[4]
Một văn bản năm Tự Đức thứ 8 (1855) cũng cho biết: Các ngục thất Bắc Kỳ tồn đọng nhiều phạm án nên Phủ Thừa Thiên hiếm mưa. Vì vậy, việc xin nhanh chóng tra xét các án là hợp với ý Trẫm, không muốn các án lưu đọng. Vậy truyền cho Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát các tỉnh lập tức tuân theo dụ trước đây, nhanh chóng tra xét sao cho phân rõ tốt xấu, hoàn thành các án sao cho việc hình án không tồn đọng nhiều mà nhân dân cũng không bị oan uổng. Vua Tự Đức đã phê duyệt.[5]
“Pháp luật như là công cụ giúp cho việc cai trị” (Vua Gia Long), có lẽ vì thế, triều Nguyễn đã khai thác một cách hiệu quả vai trò của pháp luật trong trị nước, an dân và dù cách nay khá xa, luật pháp triều Nguyễn vẫn có những giá trị không thể phủ nhận.
[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 298, tờ 54.
[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Minh Mệnh, tập 50, tờ 25.
[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Thiệu Trị, tập 33, tờ 205.
[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Minh Mệnh, tập 79, tờ 188.
[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 50, tờ 97.
Hồng Nhung