09:10 PM 18/05/2022  | 

Tôi hình dung người anh hùng Điện Biên Phủ là một người đàn ông cao, gầy, mặc áo kaki, đội mũ bộ đội và để râu, hình ảnh của một người từng trải qua những khổ đau khó có thể tin được và nhiều dấu vết không thể xóa nhòa của những năm tháng ấy còn đọng lại. Tôi tự nhủ rằng chắc Người ít khi cười, khá nghiêm nghị và khô khan, như một ông già ở tuổi bảy mươi, sức khỏe yếu và cử chỉ chậm chạp.

Nhưng tất cả những dự đoán của tôi đều tan biến khi Người xuất hiện ở cửa máy bay và bước xuống cầu tàu bay với bước đi nhanh nhẹn, nước da hồng hào của một người khỏe mạnh, đôi mắt sáng, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt của người rõ ràng đã có tuổi nhưng vẫn tràn đầy năng lượng.

Bác có bộ râu và mái tóc bạc trắng. Bác không gầy và có chiều cao tầm thước. Tôi có cảm tưởng mình đang đứng trước một con người phi thường, vô cùng đặc biệt, không chút màu mè và tâm hồn cao cả của Người vượt lên mong muốn được ngợi khen rất tầm thường ở tất cả chúng ta. Ta cảm nhận được phẩm chất và tài năng lãnh đạo của Người nhiều hơn những gì mình thấy. Đó là những phẩm chất của một người giản dị, có thể yêu thương tất cả.

Tôi đột nhiên rũ bỏ mọi vướng mắc trong lòng cho đến lúc đó và lấy lại bình tĩnh. Lúc này, Bác Hồ đã choán hết tâm trí tôi, đến mức tôi dường như chỉ loáng thoáng nghe thấy tiếng hai mươi mốt khẩu đại bác và tiếng reo hò của đám đông xa xa.

Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi.

Ngay sau sự đón tiếp rất nồng hậu của người anh cả Soukarno, Bác Hồ hỏi: "Anh có thể cho tôi biết điều tôi cần làm lúc này không?” Quả là một người giản dị và thẳng thắn. Điều Người không biết, Người hỏi ngay rất chân thành và chi tiết, thay vì tỏ ra biết rồi sau mới vỡ lẽ là mình nhầm, như hầu hết chúng ta, mà trước hết là tôi, từng làm khi ở nước ngoài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại phòng họp của Quốc hội Indonesia

Khi các nhà lãnh đạo của chúng tôi lên bục tại phi trường để phát biểu trước hàng nghìn người Indonesia, tôi đã có dịp quan sát vị khách của nước mình ở cự ly gần.

Người không mặc bộ đồ kaki như tôi tưởng tượng, mà là chiếc áo kín cổ, không phải trắng cũng không phải xám, màu mà tôi không thể xác định được. Người đi đôi dép cao su hình như được cắt ra từ lốp ô tô và sau khi quan sát, hóa ra nó quả thực được làm bằng lốp và săm xe mà tôi không đoán được nhãn hiệu.

Buổi tối hôm đó, chúng tôi ngồi cùng bàn. Bác Hồ kiên quyết yêu cầu chúng tôi bỏ nghi thức và dùng tất cả các món ăn cùng lúc, mà không phải phục vụ nhiều.

“Tôi sẽ dùng món mình thích và các anh cũng vậy, như trong gia đình, đừng cầu kì.”

Bác gọi cả chú Tonkimin, chủ khách sạn và mời ông dùng bữa tại bàn cùng chúng tôi.

Chân dung Bác Hồ của ông Lê Ngọc, một thợ máy chữ tại Hà Nội

Ngay sau bữa ăn, Bác đề nghị đi dạo phố mà không cần cận vệ. Tôi được lệnh cởi bỏ quân phục và phù hiệu cấp bậc của mình.

Lúc đó, tôi rất ngạc nhiên khi thấy Bác tin tưởng như vậy dù Người vừa mới biết chúng tôi.

Khi ngẫm lại, tôi nhận ra Người rất tin ở bản thân mình, nhưng tôi cũng không vì thế mà giảm bớt niềm hạnh phúc to lớn khi được Người đặt niềm tin. Khi bạn tin tưởng giao nhiệm vụ cho một người, anh ta sẽ luôn cảm thấy vui sướng vì điều đó.  

Chúng tôi đã dẫn Bác đi thăm Djakarta, để Bác chứng kiến những điều đã xảy ra. Chẳng phải Người chính là một nhà cách mạng, một người chiến sĩ hiểu rõ những khó khăn mà chúng ta gặp phải khi muốn xây dựng đất nước và nắm được những vấn đề và nhu cầu của người dân hay sao?

Vả lại, chính Người cũng kể cho chúng tôi những điều còn tồn tại ở đất nước đang trong quá trình xây dựng của mình.

Trên bờ sông Djialoung, trái tim tôi thắt lại khi thấy một bộ phận người dân vẫn phải tắm giặt ngay trên con sông dùng làm cống thoát nước. Tuy nhiên đó không phải là lần đầu tiên tôi nhìn thấy Djialoung, vậy tại sao đêm đó tôi lại ngạc nhiên, tại sao lại hối hận và nỗi buồn ám ảnh này xé nát trái tim tôi?

Bởi vì tôi là người hướng dẫn mong muốn chỉ cho khách quý của mình thấy những gì đẹp đẽ hơn nhưng cuộc sống lại dẫn vị khách đến với thực tế cay đắng này.

Chắc chắn Người đọc được những suy nghĩ của tôi, bởi vì ngay sau đó Người cất lời: "Chúng ta không thể thay đổi tình hình và xây dựng lại trong chớp mắt, đó là chuyện chỉ có cây đũa thần mới làm được trong một đêm. Cần có sự kiên trì cách mạng. Trừ khi chúng ta quên rằng cách mạng không chỉ là độc lập về chính trị, mà còn là nâng cao mức sống của nhân dân, ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Nếu không có điều đó, thì cách mạng chẳng để làm gì.” 

Tôi nghĩ về những gì mình đã nói với nhóm du kích đang chiến đấu chống lại quân Hà Lan năm 1945... Chúng ta phải đánh đuổi người Hà Lan để đất đai của chúng ta là của chúng ta, để không còn những "quý ông vĩ đại" nữa ... để tất cả con cái của chúng ta đều được bình đẳng. Như vậy chúng ta sẽ có độc lập, tất cả con cái của chúng ta sẽ được đến trường và làng mạc của chúng ta sẽ có điện.

Và cũng vào buổi tối hôm đó, trong một đêm đầy sao, tôi đã nói chuyện với Bác Hồ về những người du kích của chúng tôi, về sự tàn bạo của kẻ thù, về sự hy sinh của đồng bào, về những ước mơ và lý tưởng chung của chúng tôi.

Mọi ranh giới, mọi rào cản đều bị xóa nhòa. Trước mặt tôi không còn Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà là một người chiến sĩ giản dị tôi có thể xem như cha, như lãnh tụ và như một người bạn không còn chút nào xa lạ.

Tôi hiểu tại sao những ngày sau đó, Bác Hồ và người anh cả Karno của chúng tôi lại thân mật, thân tình, thân quen đến thế.

Một hôm, tôi đề nghị Người kể cho tôi nghe về những kỷ niệm khó quên thời kỳ chiến tranh du kích. Gương mặt Người bừng sáng, đôi mắt sáng ngời như thể đang quay ngược thời gian.

“Nếu có thể nói về chiến tranh du kích, tôi phải nói về trẻ con, phụ nữ và thanh niên. Tôi thích bắt đầu bằng câu chuyện về bọn trẻ…” Càng nghe Bác kể, tôi càng tin tưởng rằng trước mắt mình là một nhà du kích cừ khôi, một chiến sĩ am hiểu đấu tranh du kích đến chân tơ kẽ tóc.

Ai có thể tin được rằng một ông lão vui vẻ từng nhảy múa ở Koung Bogo, ở Solo, ở Medang trong đêm hội thanh niên, lại chính là người đã chỉ huy hàng ngàn du kích và lãnh đạo cả dân tộc trong cuộc chiến chống lại kẻ thù, nạn đói, nạn dốt để đưa họ đến một con đường mới mà không bao giờ từ bỏ phong cách sống giản dị của mình, ngay cả khi đã đưa dân tộc và tổ quốc của mình tới nền độc lập?

Bác Hồ nói: “Càng ngắm đất nước của các anh, tôi càng thấy nó giàu có”. Tôi trả lời: “Giàu có thôi chưa đủ. Vẫn cần phải biết cách sử dụng nguồn tài nguyên này. Nếu nằm trong đống tài nguyên mà không biết sử dụng cho tốt thì dân tộc có thể mãi mãi nghèo khổ.”

Bác Hồ gật đầu: “Trước hết, tất cả mọi người phải được ăn khi đói. Nỗ lực đầu tiên của chúng ta là tăng sản lượng lương thực, hay nói cách khác là thúc đẩy nông nghiệp và động viên nông dân. Người nông dân không thể tách mình ra khỏi vấn đề ruộng đất. Khi vấn đề ruộng đất được giải quyết, sản lượng tăng lên tới mức chúng ta có thể xuất khẩu một phần gạo dôi dư. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề nông dân nếu không chú ý đến các băn khoăn của chính người nông dân...”

Bác còn nói: “Thực dân Pháp quả là ngu ngốc. Họ biết chúng tôi sẽ đứng lên chiến đấu mà vẫn quay trở lại. Họ biết sẽ lâm nguy mà vẫn quay trở lại để chịu cảnh lâm nguy.”

Và Bác cho tôi ví dụ về đội tuần tra bị quân du kích bắn và đành phải truy đuổi vì chẳng thể làm gì khác. Họ biết rằng các đường mòn đã bị đặt bẫy, rằng bẫy rập đang chờ đợi họ. Khi một người rơi vào bẫy, phải mất bốn người kéo anh ta ra. Đội tuần tra biết thế, vậy mà vẫn tiến lên như thể họ đang tự tìm đến cái chết.

Thực dân Pháp mù quáng nghĩ rằng một dân tộc không thể có sức mạnh nào khác ngoài sức mạnh về vũ khí. Họ quên mất tình đoàn kết, khát vọng về sự thống nhất của một dân tộc sẽ từ chối sự bảo hộ và bóc lột.

Tôi có thể viết đến cả hàng chục trang về tài năng và đức độ của Bác Hồ. Chúng không được khắc trên các đường nét hay trên cơ thể Người như tôi nghĩ, mà bởi qua tiếp xúc, tôi nghĩ Người đã từng trải qua những thử thách khủng khiếp và cuộc đời hoạt động đã đưa Người hòa mình vào mọi tầng lớp xã hội và tiếp cận mọi lĩnh vực.

Sự uyên bác của Người khiến tôi không còn nghi ngờ gì nữa và tôi ngưỡng mộ Người vì lòng quyết tâm trong mọi hoàn cảnh, vì khả năng đối đáp gây cười, những kết luận sáng suốt, sự ứng biến nhanh nhạy và những cử chỉ tinh tế.

Tôi nghe nói Bác thường xuyên tập Thái cực quyền để giữ sức khỏe. Nhưng Người cũng có một tâm hồn nghệ sĩ, Người có thể đọc và bình những bài thơ cổ khó nhất của Trung Quốc, thậm chí có những tác phẩm đến cả người Trung Quốc còn thấy khó hiểu. Người nói được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc và đã đến thăm một số nước trên thế giới.

Khi Người cho chỉ thị, tôi quan sát và từ ngọn lửa bừng sáng trong mắt Người, tôi hiểu Người muốn nói gì và cần phải làm những gì Người yêu cầu.

Nhưng tôi nghĩ Bác là một người rất nhạy cảm. Khi chúng tôi đến Trung tâm y tế Solo, Người đã khẩn khoản đề nghị tôi hạn chế cảnh những đứa trẻ tàn tật, khiếm thị. Ai cũng biết Người yêu trẻ con. Người đã khóc khi gặp những thương binh trong bệnh viện này.

Người là kẻ thù của mọi sự lãng phí. Ở Dinh Độc Lập, tôi đã thấy Người yêu cầu tắt đèn sau khi mặt trời mọc. Người nói: “Điện này có thể được sử dụng cho việc khác.”

Tại sân vận động Tambarsari ở Sourabaya, hai nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta đã cùng nhau hô vang lời kêu gọi đoàn kết. Người anh cả Karno của chúng tôi đã đưa ra lời cảnh báo đối với những kẻ đầu cơ nắm giữ tài sản của nhân dân và quốc gia và tôi đã thấy Bác Hồ gật đầu đồng ý.

Buổi tối đến Medang, Người đã gọi tôi và những người bạn của tôi: “Tôi cảm ơn tất cả các bạn, những người bạn của tôi - Người đã nói với chúng tôi - bởi vì chính nhờ các bạn mà chuyến đi của tôi rất thành công và tôi thực sự cảm thấy như một gia đình. Tôi chúc bạn chiến thắng trong cuộc đấu tranh của mình.”

“Để làm quà lưu niệm, tôi tặng các bạn một số hiện vật mà giá trị không tính bằng tiền: một bức chân dung và một huy hiệu Điện Biên Phủ. Đừng nghĩ rằng ai cũng có thể đeo huy hiệu này, chỉ những người từng tham gia trận đánh mới được quyền đeo nó”.

Tôi đáp lại rằng việc chăm sóc bảo vệ và phục vụ Người là một vinh dự đối với chúng tôi và tôi đã rút ra bài học từ đó. Tiếp xúc với Bác, tôi đã học được những điều cần phải làm, cần phải sống như thế nào và suy nghĩ làm sao để xứng đáng là người lãnh đạo.

Và thực sự, tôi đã rút ra từ đó một bài học quý giá. Đây là bí quyết mà nhà lãnh đạo, người dẫn đường được toàn dân công nhận này để lại cho tôi: làm gương trong mọi lĩnh vực cho tất cả những người mà mình lãnh đạo. Tấm huy hiệu mà tôi nhận được hoàn toàn giản dị giống như một huy hiệu bình thường, nhưng nó là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam.

Tôi vẫn luôn băn khoăn: “Mình có được phép đeo huy hiệu này không?”

Tôi là một sĩ quan hầu cận của Bác Hồ. Tuy nhiên, hình như hễ có chuyện gì xảy ra, thì chính Bác lại là người bảo vệ tôi.

-----------------------

Trích dịch từ bài viết của Đại tá Suharjo - Indonexia trong cuốn “Vietnam en marche” năm 1959 - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

Minh Phúc