Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục sau khi cải tạo (Nguồn: Báo Thanh niên)
Sách “Hà Nội cũ” của Doãn Kế Thiện kể lại câu chuyện về “Cây dừa bêu đầu” gắn liền với khu vực này.
“Nói đến những nơi rùng rợn ở Hà thành khoảng năm mươi năm về trước đây, ngoài cái “hồ xác trẻ” ra, lại còn nơi “cây dừa bêu đều”. Người nào hèn nhát, nhất là đàn bà con trẻ đều coi như một thế giới riêng của bọn quỷ không đầu, hàng ngày hễ tới lúc mặt trời lặn không ai dám qua lại nữa. Nơi đó không phải là một nơi khuất vắng, lại chính là một nơi mà bây giờ chúng ta đều cho là chỗ rất phong quang, vui vẻ nhất Hà thành. Những buổi chiều hè, vì nóng bức, người ta lũ năm lũ bảy dắt nhau đến để đón những luồng gió mát của cây, của nước, của trời. Phải, đó là hồ Hoàn Kiếm. Trên bờ hồ, bãi đất lập ra nhà ga xe điện bây giờ, trước kia chỉ là một bãi cỏ rườm rà bát ngát, riêng làm một nơi chiến trường cho hàng đàn “Vằn, Vện, Má, Mực” ở các phố gần đó hàng ngày mỗi buổi sáng kéo ra tranh mồi. Giữa bãi có mấy cây dừa cằn cỗi, thân cây sù sì, mỗi cây lúc nào cũng chỉ trơ có một cành lá xác xơ. Những bọn trẻ du đãng hay leo trèo lên các cành cây để kiếm quả ăn, hay đùa nghịch trên những cây cối xung quanh đó. Riêng mấy cây dừa kia chúng đều lắc đầu lè lưỡi không một đứa nào dám bén mảng: chúng coi như mấy vị hung thần, lỡ phạm đến tất không toàn tính mệnh. Mấy cây dừa đó làm sao lại có cái ma lực ấy? Có gì đâu. Đó là chỉ vì thỉnh thoảng người ta lại đem treo một cái hay mấy cái đầu lâu của những trọng tù bị tội trảm quyết vào thân mấy cây dừa ấy, nói là “bêu” để làm gương cho kẻ khác coi đó làm răn. Mỗi khi có một cái đầu đem bêu ở đó, trên thân cây dừa lại dán một tờ giấy kể rõ tội trạng của kẻ đã bị tử hình ấy cho các người qua lại xem. Nhưng đối với cảnh thê thảm ấy, ai phải đi qua đó đều nhắm mắt rảo bước đi nhanh, còn gan nào đứng lại để nhìn. Họa hoằn lắm mới có một vài người đàn bà, vì lòng mê tín, đánh liều cầm mảnh giấy đón lấy giọt máu ở cái thủ cấp còn thánh thót rỏ xuống, đem về dán ở đầu giường, tin rằng đó là cái bí quyết để khu trừ ác quỷ Phạm Nhan, vì nó đã tàn ác làm cho họ hữu sinh vô dưỡng”[1].
Người Pháp gọi khu vực này là Bãi Dừa (place du Palmier / place du Cocotier). Năm 1885, cụ Nguyễn Văn Như, tức Lãnh Như[2] bị xử trảm tại đây. Cảnh hành hình được Gaston Roullet mô tả trong bút ký “Un artiste au Tonkin et en Annam” (Một họa sĩ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ):
“Ngày 04 tháng 11 năm 1885, chúng tôi chứng kiến cảnh xử trảm một thủ lĩnh người An Nam, tham gia khởi nghĩa ở Thanh Mai, tức Lãnh Như.
Bãi Dừa đông nghịt, vì dân chúng Viễn Đông rất thích những cảnh tượng như thế này. Do chưa từng chứng kiến cảnh hành hình nào tương tự, nên chúng tôi cố gắng không bỏ lỡ bất kỳ chi tiết nào và chúng tôi đứng cách cây dừa chỉ vài bước chân.
Người An Nam ra pháp trường với sự dũng cảm phi thường, điều mà người Âu chúng ta không thể hiểu nổi.
Viên thủ lĩnh hút thuốc đến giờ phút cuối cùng, tự tay vén tóc và thản nhiên như thể đang chứng kiến cảnh hành hình của người khác. Người ta bẻ quặt tay ông ra sau, trói vào một cọc tre, bắt ông quỳ xuống; xé bỏ cổ áo để phần cổ hở ra rồi dội nước lã lên đó; nói chung là chuẩn bị mọi thứ cho thời khắc định mệnh. Rồi, viên đao phủ đứng cạnh người tử tù trong ít nhất 20 phút, tay lăm lăm thanh đao, chờ đợi mệnh lệnh của quan trên, ông quan này đứng ở đầu kia pháp trường, có lính hộ tống xung quanh.”[3]

Cảnh hành hình cụ Nguyễn Văn Như tại Bãi Dừa năm 1885 (Nguồn: Báo Le Monde illustré)
Sau này, người Pháp dời pháp trường đi nơi khác. Khu vực Bãi Dừa được quy hoạch thành vườn hoa Négrier (nay là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục trước khi phá bỏ tòa nhà “Hàm Cá mập” (Nguồn: Báo Dân trí)
Bùi Hệ