08:59 PM 20/05/2022  | 

Trước kia, việc dạy võ nghệ hoàn toàn mang tính tự do, không có trường đào tạo chính thức, nhưng triều đình vẫn tổ chức các kỳ thi định kỳ. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), bản quy chế về việc dạy võ đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845).

Việc dạy võ

Người xưa cho rằng việc dạy võ nghệ giúp cơ thể có được sự khéo léo và sức chịu đựng cần thiết cho nghề lính hơn là tạo ra thân hình cân đối. Dưới đây là một số bài luyện tập chính:

1. Cử tạ: để thực hiện bài này, người ta dùng các khối đá, khối chì hoặc lư hương.

2. Cân bằng cơ thể, lộn ngược và các bài luyện mềm dẻo tương tự như động tác thể dục của người Pháp trên xà đơn hoặc đu xà treo. Kỹ thuật này được thực hành trên cành cây hoặc trên xà đơn.

3. Bài tập tăng sức bền cho đôi tay và đôi chân:

Đối với tay, võ sinh mở bàn tay, các ngón khép sát vào nhau, sau đó thọc mạnh vào thùng thóc. Khi bàn tay đạt tới một sức mạnh nào đó, nghĩa là có thể dễ dàng xuyên tới đáy thùng, bài tập chuyển sang thực hiện trên thân cây chuối. Khi đó, võ sinh phải tập cho tới khi bàn tay xuyên qua được thân cây chuối.

Đối với chân, võ sinh phải đạp vào thân cây chuối. Sau một thời gian luyện tập, bài luyện được chuyển sang tập trên tường gạch hoặc khối đá.

4. Nhảy xa và nhảy cao:

Người ta đào một cái hố. Võ sinh túm hai ống quấn lại và đổ cát vào trong đó. Từ dưới đáy hố, võ sinh phải nhảy lên miệng hố. Trong quá trình luyện tập, độ cao của hố sẽ được tăng dần. Sau khi luyện thành thục bài tập và bỏ cát đi, võ sinh có thể dễ dàng nhảy lên rất cao.

Việc sử dụng vũ khí gồm có các bài luyện tập dùng côn, gậy, giáo, sang, kiếm có hoặc không có khiên, cung, nỏ. Cưỡi ngựa là bộ môn cũng được võ sinh luyện tập thường xuyên. Mỗi loại vũ khí sẽ có bài tập riêng. Thày dạy vừa theo dõi các động tác của võ sinh vừa ra nhịp bằng cách gõ lên một con quay gỗ. Một khi các động tác được phối hợp điêu luyện, người đó có thể bảo vệ được toàn thân, đá ném cũng không chạm được vào người.

Đối với bộ môn bắn cung hoặc nỏ, một số cung thủ đạt tới độ chính xác có thể làm cho mũi tên chẻ đôi khi bắn vào lưỡi dao ở một khoảng cách nào đó. Họ cũng có thể tập bắn cung trên lưng ngựa trong khi diễu hành hoặc đi nước kiệu. Tuy nhiên, bắn cung và bắn nỏ không nằm trong chương trình võ thí.

Khi luyện tập cử tạ, võ sinh phải ăn nhẹ để tránh bị đau dạ dày. Họ thường ăn cháo cua, món ăn được cho là bổ dưỡng nhất để hồi phục sức khỏe và dễ tiêu. Để tránh gây tổn thương cho cơ bắp, họ thường tắm bằng hơi nước nấu với lá tre và một ít lá bạc hà hoặc lá long não.

Nói chung, mỗi thày dạy võ đều có những phương thuốc rất hữu hiệu để cầm máu, chữa bầm dập, bong gân, sai khớp hoặc gãy xương.

Võ kinh hàm chứa các khái niệm chọn ngày giờ tốt để xuất quân, các khoa học dự báo liên quan tới nghệ thuật quân sự (!).

Các kỳ thi tuyển quan võ

Kỳ võ thí đầu tiên được tổ chức vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) tại tỉnh Thừa Thiên. Sau đó, Hà Nội và Thanh Hóa cũng được chọn làm hai trung tâm tổ chức thi.

Năm Thiệu Trị thứ 5, một đạo dụ ấn định ngày thi của các kỳ võ thí như sau: các kỳ võ hương thí được tổ chức vào các năm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu; các kỳ võ hội thí được tổ chức vào các năm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi ngay sau các kỳ thi Hương.

a) Kỳ võ hương thí

Gồm ba môn thi:

Môn thi thứ nhất: Cử tạ

Môn thi thứ nhất: Cử tạ

Vật dùng để nâng lên là quả tạ bằng chì nặng 120 cân An Nam (72 kg). Thí sinh phải xách mỗi tay một quả tạ đi trên cát. Nếu thí sinh xách hai quả đi được 16 trượng (64 mét) hoặc xách một quả đi được 32 trượng (128 mét) sẽ được xếp hạng ưu; xách hai quả đi được 12 trượng (48 mét) hoặc xách một quả đi được 24 trượng (96 mét) xếp hạng bình;  xách hai quả đi được 8 trượng (32 mét) hoặc xách một quả đi được 16 trượng (64 mét) xếp hạng thứ.

Nếu không đạt được giới hạn tối thiểu trong bài thi trên, thí sinh bị xếp hạng liệt.

 

Môn thi thứ hai: Múa côn và múa sang

Môn thi thứ hai: Múa côn và múa sang

Dưới triều Minh Mạng, môn thi này gồm có múa côn sắt, đấu vật, đấu kiếm và đấu khiên. Vua Thiệu Trị giới hạn chỉ còn múa côn và múa sang [múa giáo - ND].

Côn sắt nặng 30 cân An Nam (18 kg). Thí sinh phải nắm 1/3 chiều dài của nó và vừa đi vừa múa theo động tác quy định. Nếu đi được 60 trượng (240 mét) xếp hạng ưu; đi được 50 trượng xếp hạng bình; đi được 40 trượng xếp hạng thứ; dưới 40 trượng xếp hạng liệt.

Giáo có chiều dài 7 thước 7 tấc (3,08 mét). Thí sinh một tay nắm đầu tầy, một tay ở quãng giữa giáo, đứng cách con bù nhìn 3 trượng (12 mét): sau đó vừa múa theo những động tác quy định vừa nhằm vào rốn bù nhìn lao vào. Nếu đâm trúng rốn mà ngập hết mũi giáo được xếp hạng ưu; nếu đâm trúng nhưng chưa ngập hết được xếp hạng bình; nếu đâm vào rìa rốn được xếp hạng thứ; nếu trượt ra ngoài bị xếp hạng liệt.

Môn thi thứ ba: Bắn súng hiệp

Môn thi thứ ba: Bắn súng hiệp

Thí sinh đứng cách một mô đất 20 trượng 5 thước (82 mét), trên mô đất có một cái bia bao quanh là vòng tròn trắng. Thí sinh phải bắn 6 phát súng. Nếu bắn 2 phát trúng bia, 1 phát trúng vòng tròn, 3 phát vào mô đất, thí sinh được xếp hạng ưu; 1 phát trúng bia, 1 phát trúng vòng tròn, 4 phát trúng mô đất xếp hạng bình; 2 phát trúng vòng tròn, 4 phát vào mô đất xếp hạng thứ; 1 phát trúng và 5 phát còn lại hoặc tất cả đều chệch bị xếp hạng liệt.

Kỳ phúc hạch gồm một số câu hỏi về võ kinh. Tổng số điểm đạt được sẽ dùng để xếp hạng cuối cùng.

Qua 3 môn thi, thí sinh nào đạt một ưu hoặc một bình được xếp cử nhân võ, những ai chỉ đạt toàn thứ đỗ tú tài võ.

b. Kỳ võ hội thí

Chương trình thi của kỳ này cũng giống như kỳ võ hương thí nhưng trọng lượng quả tạ và quãng đường đi tăng lên.

Kỳ võ đình thí không bắt buộc, gồm một số câu hỏi về võ kinh, về khoa học quân sự, chiến lược của các nhà quân sự nổi tiếng thời xưa và về các vấn đề thời sự.

Thí sinh thi võ đình thí nếu đủ điểm sẽ được phong tiến sĩ võ và được nhận mũ, áo, cờ, biển.

Thí sinh kỳ võ đình thí không đủ điểm cũng như những người chỉ qua được bài thi của kỳ võ hội thí được xếp phó bảng võ (học vị trong các kỳ thi võ cũng tương tự như học vị trong các kỳ thi văn).

Nếu kỳ thi hương nhằm mục đích tuyển dụng quan chức cho chính quyền dân sự thì các kỳ thi võ nhằm mục đích tuyển quan chức cấp cao cho quân đội. Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ, các kỳ thi võ cũng như quân đội An Nam đã bị bãi bỏ cùng lúc.

Tuy nhiên, các lớp võ do các võ cử cũ dạy vẫn tồn tại một thời gian dài. Các lớp này thu hút những người nghiệp dư tới học để tự vệ. Biết võ vừa tạo danh tiếng vừa nâng cao giá trị bản thân.

Hiện nay [năm 1944 - ND], các lớp như vậy không còn nhiều. Thể dục, quyền Anh và các môn thể thao của phương Tây đang dần chiếm ưu thế.

Nếu như việc học múa các binh khí cổ không cần nữa thì một số bài quyền thuật, múa sang và múa côn lại là những môn nghệ thuật đích thực bao gồm các động tác phức tạp giúp tự vệ và tấn công đáng được giới trẻ biết tới.

Tuy nhiên, xin lưu ý rằng ngay dưới chế độ cũ, việc dạy võ không mấy phổ biến. Điều này thể hiện truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc An Nam. Nghề đao kiếm chưa khi nào tạo ra danh tiếng ở đất nước chúng ta. Nói chung học chữ thường được coi trọng hơn học võ nghệ. Làm quan văn vẫn hơn làm quan võ, móng tay dài và thân hình lẻo khoẻo vẫn hơn cơ bắp nở nang và thân hình lực sĩ.

Nguồn: Theo La Giang đăng trên Tuần san Indochine số 197, ngày 08/6/1944.

Hoàng Hằng