Điện Huệ Nam tọa lạc trên núi Ngọc Trản (Thành phố Huế). Điện vốn là ngôi đền trên núi Ngọc Trản, dân gian thường gọi là Hòn Chén. Ban đầu, ngôi đền này được người Chăm thờ nữ thần Ponagar. Sau đó, người Việt tiếp tục thờ bà với danh xưng là Thánh mẫu Thiên Y A Na.
Từ xa xưa, ngôi đền trên núi Ngọc Trản vốn linh thiêng, lại tọa lạc ở nơi phong cảnh hữu tình. Vì vậy, các vua triều Nguyễn thường phái người đến cầu đảo và trùng tu đền. Theo ghi chép trong chính sử, năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), nhà vua cho “Sửa đền sơn thần ở núi Ngọc Trản, sai phủ Thừa Thiên thuê thợ để làm.”[i] Đến năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), đền tiếp tục được tu sửa và làm thêm đồ tế tự. Đại Nam thực lục viết: “Sửa đền thờ thần ở núi Ngọc Trản. Sai Bộ Lễ làm thêm các đồ thờ để sung vào việc tế tự.”[ii]
Sau khi kế vị, vua Thiệu Trị thường phái người đến ngôi đền trên núi cầu đảo. Chính sử chép việc tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), trong Kinh lâu ngày không mưa, vua liền phái Đề đốc Tôn Thất Cung đến miếu Vũ sư (thần làm mưa) thành kính cầu đảo và sai quan huyện đến đền thờ ở núi Ngọc Trản để cầu mưa.[iii]
Lại tháng 3 năm Tự Đức thứ 18 (1865), trong Kinh mưa rét nhiều ngày làm ảnh hưởng đến mùa màng. Vua sai quan phủ Thừa Thiên đi cầu tạnh mà chưa được. Sau đó, vua sai “Biện lý Bộ Lễ là Nguyễn Văn Thuý, Biện lý Bộ Hình là Tôn Thất Tĩnh đến đền ở núi Ngọc Trản và miếu Đô thành hoàng để cầu khẩn.”[iv]
Bên cạnh đó, sử liệu Châu bản triều Nguyễn cũng cung cấp thông tin về việc cầu đảo ở đền núi Ngọc Trản thời vua Tự Đức. Nội dung bản tấu của Đình thần ngày 19 tháng 3 năm Tự Đức thứ 23 (1870) cho biết: “Kể từ tháng trước đến nay ở Kinh đô và các tỉnh lân cận đều báo không có mưa, đã cầu đảo mà chưa ứng nghiệm. Vả lại, hiện nay lúa đang kỳ ngậm đòng trổ bông, mà khí nóng càng khốc liệt. Nhân dân trông mưa lắm. Ngoài việc Phạm Ngọc Huy phủ thần Thừa Thiên cầu đảo ở miếu Hội đồng ra, nay chúng thần bàn xin phái ba viên quan văn võ, chọn ngày 11 tháng này đến miếu Vũ sư, miếu Đô thành hoàng và Ngọc Trản sơn thần từ, thành tâm cầu đảo để sớm được mưa ngọt, thỏa lòng mong ngóng của nhà nông.”[v]
Châu bản này cho chúng ta biết việc triều đình Nguyễn phái người đến đền ở núi Ngọc Trản cầu đảo. Điều này thể hiện thái độ sùng tín vào sự linh thiêng của ngôi đền. Ngoài ra, sử liệu cho biết thêm, đến thời vua Tự Đức, đền vẫn được viết là “Ngọc Trản sơn thần từ” (đền thần núi Ngọc Trản).
Khảo sát các nguồn chính sử và sử liệu thì tên gọi “Huệ Nam điện” thay cho “Ngọc Trản sơn thần từ” bắt đầu có từ thời vua Đồng Khánh. Tên gọi điện Huệ Nam này do chính vua Đồng Khánh đặt và gắn liền với một giai thoại. Chuyện liên quan tới thời kỳ lịch sử của triều Nguyễn với nhiều phen thay ngôi đổi vị. Đó là những năm 1883 - 1885, vua Đồng Khánh (khi đó đang là Kiên Giang quận công, sau lại bị giáng làm Kiên Giang hầu) chờ mãi chưa được nối ngôi. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái vương đến đền Ngọc Trản cầu và hỏi Thánh mẫu Thiên Y A Na xem mình có được lên ngôi vua. Thánh mẫu cho biết, ông sẽ được toại nguyện.
Vì vậy, sau khi lên ngôi, vua Đồng Khánh đã đổi tên thành điện Huệ Nam, xây dựng lại đền, làm thêm đồ tự khí để tỏ lòng biết ơn Thánh mẫu. Chọn tên “ Huệ Nam điện” là bởi nhà vua cho rằng “Đền ấy nhờ được linh khí đắc nhất, cứu người, độ đời; giáng cho phúc lộc hàng muôn, giúp dân giữ nước; vậy cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam để biểu hiện ơn nước một phần trong muôn phần”
Vua lại sai người làm tấm biển đề chữ “Huệ Nam điện”. Trong bản tư trình của Bộ Lễ gửi Khâm thiên giám ngày 19 tháng 11 năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) viết: “Nay nhận được tư văn của Bộ Công nói rằng nhận được tờ trình của phủ Thừa Thiên nói thuê làm tấm biển điện Huệ Nam đã xong, tư xin chọn ngày tốt cung kính treo biển. Vì vậy, nha đó tư trình xin sức chọn lấy ngày nào trong hạ tuần tháng này treo được tốt.”[vi]
Bản tư trình của Bộ Lễ gửi Khâm thiên giám ngày 19 tháng 11
năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) về việc chọn ngày treo biển điện Huệ Nam.
Việc này, chính sử chép vào tháng 02 năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) cho: “Đổi đền Ngọc Trản làm điện Huệ Nam. Vua khi còn ẩn náu, thường chơi xem ở núi ấy, mỗi khi đến đền cầu khẩn, phần nhiều có ứng nghiệm. Đến nay, vua phê bảo rằng: Đền Ngọc Trản thực là núi tiên nữ linh sơn sáng đẹp muôn đời, trông rõ là hình thế như con sư tử uống nước sông, quả là nơi chân cảnh thần tiên. Đền ấy nhờ được linh khí đắc nhất, cứu người, độ đời; giáng cho phúc lộc hàng muôn, giúp dân giữ nước; vậy cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam để biểu hiện ơn nước một phần trong muôn phần. Rồi chuẩn cho Bộ Công chế làm biển ngạch treo lên đền (4 bề chạm rồng, giữa khắc chữ to: Huệ Nam điện, bên trên khắc chữ ngự chế, bên dưới khắc niên hiệu).”[vii]
Đối với điện Huệ Nam, vua Đồng Khánh dành một sự ưu hậu đặc biệt. Đại Nam thực lục chép tháng 3 năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) “Phủ Thừa Thiên lâu không mưa, nắng lắm, dịch lệ đôi khi có phát. Vua đã sai quan phủ đến lễ cầu ở miếu Hội đồng và các đền thiêng sáu huyện trong hạt nhiều lần (mỗi lần 3 ngày) không linh ứng. Quan phủ tâu xin chuẩn cho cầu đảo ở điện Huệ Nam, ngày hôm sau mưa xuống trận to.”[viii] Vì sự linh ứng đó nên vua Đồng Khánh ban thêm mỹ tự cho các thần được thờ ở điện này. Thánh mẫu Thiên Y A Na thờ ở gian chính giữa được gia phong làm “Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng Trang Huy Ngọc Trân Thiên Y A Na Diễn Vương Phi thượng đẳng thần”.[ix]
Đồng thời, trong thời gian tại vị, vua Đồng Khánh nhiều lần cho xây dựng, trùng tu điện Huệ Nam. Châu bản triều Nguyễn cho biết, tháng 3 năm Đồng Khánh thứ nhất (1886), vua ban chỉ cho xây dựng đền Quan Công ở bên phải điện Huệ Nam.[x] Đại Nam thực lục chép: “Dựng nhà Tế Bắc ở bên hữu điện Huệ Nam để thờ riêng Quan Thánh Đế Quân (nguyên trước cùng thờ chung với các âm thần trong điện, sợ là khinh mạn, nên dựng nhà riêng để thờ)”.[xi]
Đến cuối năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), việc xây dựng, trùng tu quần thể điện Huệ Nam vẫn tiếp tục. Nội dung này được đề cập qua bản tấu của Hà Thúc Quan ngày mồng 4 tháng 9 năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) như sau: “Nay nhận được cung lục của Bộ Lại phụng thượng dụ: Quang lộc tự khanh phụng sung Đổng lý Cục Thiên Thành hữu Hà Thúc Quan chuẩn giữ nguyên hàm Tá lý Bộ Lễ. Thần lập tức bái mệnh nhận chức. Trộm xét thần trước đã vâng được biệt phái đôn đốc công việc ở điện Huệ Nam. Nay tôn sở làm còn chưa xong, xin tuân theo phê chuẩn trước đây cho thần lưu lại để đôn đốc công việc cho được từ đầu đến cuối. Khi nào việc xong sẽ trở về bộ làm việc”.[xii]
Không chỉ cho trùng tu điện Huệ Nam mà vua Đồng Khánh còn nhiều lần đích thân tới điện. Tháng 9 năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), vua ngồi thuyền đến điện Huệ Nam. Châu bản ngày mồng 6 tháng 9 năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) viết: “Thái giám Phạm Thưởng truyền: vâng theo sắc tan canh ngày mai Ngự giá ngồi thuyền đến điện Huệ Nam, đến trưa về hành cung Vạn Tuế dùng cơm một lát. Sau đó, Ngự giá đến duyệt xem Cục Thiên Thành, lại đến Cục Thiên Thành hữu. Việc xong sẽ hồi loan.”[xiii]
Tháng 12 năm đó, sau khi vua đi làm lễ kỵ xong lại tới điện Huệ Nam. Bản phúc của các viên trực ban thuộc Thị vệ cho biết: “Ngày 19 tháng này Ngự giá đi làm lễ kỵ. Việc xong, buổi chiều Ngự giá tới xem điện Huệ Nam, đến ngày 21 hồi loan.”[xiv]
Qua các thông tin ghi chép trong chính sử và sử liệu cho thấy vua Đồng Khánh dành nhiều ưu hậu và sùng tín đối với điện Huệ Nam. Chính vua Đồng Khánh đã đưa lễ tiết hàng năm ở điện này lên hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ đệ của Thánh mẫu Thiên Y A Na. Cho tới nay, điện Huệ Nam là ngôi điện duy nhất ở Huế kết hợp giữa nghi thức cung đình và tín ngưỡng dân gian.
[i] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.296.
[ii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 4, tr.11.
[iii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 6, tr.586.
[iv] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 7, tr.929.
[v] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 212, tờ 188.
[vi] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Đồng Khánh tập 7, tờ 46.
[vii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 9, tr.241.
[viii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 9, tr.256.
[ix] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 9, tr.257.
[x] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Đồng Khánh tập 2, tờ 237.
[xi] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 9, tr.347.
[xii] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Đồng Khánh tập 26, tờ 198.
[xiii] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Đồng Khánh tập 26, tờ 184.
[xiv] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Đồng Khánh tập 26, tờ 405.
Nguyễn Hường