Vườn Thiệu Phương (Thiệu Phương viên) là một trong những ngự uyển nổi tiếng với vẻ đẹp hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên và kiến trúc cung đình độc đáo trong Đại Nội Huế. Vườn được xây dựng năm Minh Mệnh thứ 7 (1828), nằm ở phía đông, bên trong cửa Hưng Khánh thuộc Tử Cấm thành. Chính sử Đại Nam thực lục chép: “Làm vườn Thiệu Phương (ở bên tả trong cung thành), trong vườn dựng điện Hoàng Phúc cùng các đường, các hiên và hồi lang (Cẩm Xuân đường, Di Nhiên đường, Hàm Xuân hiên, Vĩnh Phương hiên, Hồi lang chữ vạn, Tứ Phương Ninh Bật đường, Nam Phong Giải Uẩn đường”[1].
Vườn Thiệu Phương có tường gạch bao quanh, cửa chính mở về phía nam. Trong vườn có nhiều công trình nhưng vườn đặc biệt nổi tiếng với kiến trúc “Vạn tự hồi lang” (hồi lang hình chữ “Vạn” 卍 ) ở vị trí trung tâm chạy ra bốn phía. Ở bốn góc hồi lang có bốn công trình kiến trúc nhỏ đăng đối. Góc tây nam dựng Di Nhiên đường, quay mặt về hướng nam; góc đông nam có Vĩnh Phương hiên, mặt quay về hướng đông; góc đông bắc dựng Cẩm Xuân đường, quay mặt về hướng bắc; góc tây bắc có Hàm Xuân hiên, mặt quay về hướng tây.
Phía tây “Vạn tự hồi lang” có hai lạch nước nhỏ đều tên là Ngự Câu thông với hồ Ngọc Dịch. Bờ phía đông của lạch Ngự Câu đắp một hòn núi nhỏ đặt tên là Trích Thúy sơn. Phía tây Ngự Câu là điện Hoàng Phúc. Điện được dựng năm gian hai chái, mái kiểu trùng thiềm, trên lợp ngói hoàng lưu li.
Trong vườn Thiệu Phương còn có đình bát giác, phía trên treo tấm biển đề dòng chữ Nhân Thanh Bát Biểu. Ngôi đình này nằm ở phía nam điện Hoàng Phúc. Cùng phía đó lại có ao sen. Phía bắc của điện Hoàng Phúc dựng phương đình[2], trên biển đề chữ Minh Đạt Tứ Thông và một nhà thủy tạ Lương Đình Điếu Ngư để vua hóng mát, câu cá. Thời vua Thiệu Trị, nhà thủy tạ này được xây dựng lại và đổi tên thành Trừng Quang tạ.
Vườn Thiệu Phương, đúng như tên gọi là một khu vườn nối tiếp hương thơm. Khi mới kiến tạo, ngự uyển này được trồng nhiều hoa thơm cây lạ. Đây không chỉ là nơi thưởng ngoạn của hoàng gia mà còn là nơi di dưỡng tinh thần, thư giãn của các vị vua triều Nguyễn. Chính sử ghi chép lại nhiều cuộc thưởng ngoạn của vua quan triều Nguyễn. Đại Nam thực lục chép mùa xuân năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) “vua đi chơi vườn Thiệu Phương, triệu đình thần vào hầu, cho ngồi ở hành lang chữ Vạn, thong dong uống nước chè, ăn quả rồi về”[3].
Trong Đại Nam thực lục đệ tam kỷ cũng ghi lại một buổi thưởng hoa, ngâm vịnh thi ca của vua Thiệu Trị và các đại thần ở vườn Thiệu Phương vào mùa thu năm Thiệu Trị thứ nhất (1841). Sử chép: “Cây hương trầm Tây dương trồng tại sân điện Hoàng Phúc vườn Thiệu Phương lại nở hoa, mùi thơm ngào ngạt khác thường. Vua sai Nội giám đem ra cho các quan xem và bảo các đại thần rằng: ‘Thứ hoa này, mùa xuân nở thơm, mùa thu cũng nở thơm, lúc nào cũng tiếp tục có hoa, đúng là nghĩa ‘Thiệu Phương’. Nhớ lại ơn trạch của Tiên đế nhuần thấm đến cỏ cây, vườn hoa còn tươi tốt mãi, mà hồ, núi đã ở kia, tháng ngày sao chóng thế! Thấy cảnh thương tâm, xui người cảm khái gợi hứng ngâm vịnh”[4]. Sau đó, vua sai quan Nội các tuyên đọc bài thơ mình làm.
Thời Thiệu Trị, vua cư tang ở điện Hoàng Phúc trong vườn Thiệu Phương. Vì vậy, vua cho mở rộng và xây dựng thêm các công trình kiến trúc trong vườn nối liền với hệ thống cung điện khu vực Tử Cấm thành. Vua lại sai Hàn lâm viện soạn câu đối treo ở các công trình trong vườn Thiệu Phương. Bản tấu của Hàn lâm viện ngày 27 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) cho biết viện đã nhận được tư của Nội các nói rằng kính vâng sắc truyền chỉ cho “Viện Hàn lâm soạn nghĩ câu đối ở điện Càn Thành, vườn Thiệu Phương, yêu cầu phải có từ 7 chữ trở lên, dài ngắn tùy, sao cho phù hợp và sớm viết sạch sẽ trình lên xem, chờ cho phép khắc”[5]. Sau đó Hàn lâm viện đã soạn 33 câu đối cho điện Càn Thành và 23 câu đối cho vườn Thiệu Phương.
Trang đầu bản tấu của Hàn lâm viện ngày 27 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842)
về việc soạn câu đối ở điện Càn Thành và vườn Thiệu Phương.
Nguồn: TTLTQGI.
Sau khi vua Thiệu Trị chọn điện Hoàng Phúc làm nơi cư tang, từ đó các tự quân đều cư tang ở đây. Đến thời Thành Thái, vườn bị hạ giải. Châu bản ngày 13 tháng 8 năm Thành Thái thứ 9 (1897) cho biết: “Ngày 12 tháng này nhận được sắc chỉ do Thái giám Nguyễn Đề chuyển truyền cho Bộ Công và các công sở tại nội đến vườn Thiệu Phương tháo dỡ đoạn tường gạch dài 20 thước từ bên trái đến cửa Cẩm Xuân”[6]. Từ đó về sau, ngự uyển này không còn là nơi hương hoa thơm ngát bốn mùa và ít được nhắc đến trong sử sách.
Tuy nhiên, sử liệu Châu bản triều Nguyễn hiện vẫn còn một số văn bản ghi chép về việc tu sửa ở vườn Thiệu Phương thời Duy Tân. Trong đó, bản tấu của Bộ Công ngày 22 tháng 11 năm Duy Tân thứ 4 (1910) đề cập rõ: “Ngày 25 tháng 9 năm nay nhận được tờ trình của Thị vệ xứ nói rằng: căn cứ tờ bẩm của viên chuyên trách bồn hoa tại Nội là Bang tá Trần Đính thuộc Ty Đốc công cho biết thừa lệnh quý Lại Chính họp bàn cùng với quý quan Canh Nông bàn rằng: Trong vườn Thiệu Phương có bờ hồ, cửa cống, cầu gỗ, bậc tam cấp, cửa nách cần tu chỉnh và tháo dỡ tường gạch, mặt nền chùa cũ, đồng thời xây lan can cho được chỉnh tề, trang nhã, trình xin xem xét. Bộ thần đã phái kiểm tra chiều dài, chiều ngang bao nhiêu thước, tấc, biên kê đầy đủ ở sổ ghi chép và đã sức dự trù các khoản nhu phí, phu thợ, tổng cộng chi hết số bạc là 294 đồng 8 hào 5 xu ”[7]. Thông tin trong văn bản này cho chúng ta biết vào thời Duy Tân việc sửa sang ở vườn Thiệu Phương chỉ là cầu cống, cánh cửa, bờ hồ bởi thực tế khi đó nhiều công trình kiến trúc trong vườn đã bị triệt giải.
Trải qua thăng trầm của lịch sử, vườn Thiệu Phương từng khoe sắc đua hương, cũng từng hoang phế bởi những năm tháng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhờ sự nỗ lực bảo tồn và trùng tu, ngày nay vườn Thiệu Phương lại được hồi sinh với vẻ đẹp hài hòa, thanh nhã, bốn mùa hương hoa. Dường như trong mỗi đường đi lối lại của vườn Thiệu Phương vẫn phảng phất câu chuyện của lịch sử và lưu dấu một thời hoàng kim của triều Nguyễn.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.728.
[2] Phương đình: Đình hình vuông.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.849.
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 6, tr.206.
[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 18, tờ 39.
[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 32, tờ 21.
[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập 28, tờ 245.
Nguyễn Hường